1. Lý thuyết Dow là gì?
Lý thuyết Dow đóng vai trò như kiến thức nền móng trong phân tích kỹ thuật. Nó là nền tảng tiên khởi để hình thành nhiều lý thuyết giao dịch khác trong đầu tài chính, là nền tảng của phân tích kỹ thuật trong các thị trường forex, trade coin,..giúp phản ánh thông tin có sẵn và biến động thị trường.
Nếu nói đến các công cụ phân tích kỹ thuật nổi bật được sử dụng phổ biến ngày nay như Trendline, RSI, MACD,… hay sóng Elliott. Anh em nên nhớ rằng Lý thuyết Dow là một trong những thứ đã đặt nền móng cho những công cụ đó.Nói chung, hầu hết lý thuyết giao dịch hiện nay đều xây dựng theo tiên đề của Dow.
Cha đẻ của lý thuyết Dow là một nhân vật nổi tiếng trong thị trường chứng khoán Mỹ – Charles H.Dow, và đây chính là người đã sáng lập ra chỉ số Dow – Jones (cùng với cộng sự Jones).
Lý thuyết Dow là kết quả của một chuỗi những bài báo được Charles H. Dow xuất bản từ năm 1900 – 1902 trên tờ The Wall Street Journal. Lý thuyết Dow được coi là khởi nguồn của mọi trường phái phân tích kỹ thuật. Điều thú vị là ở chỗ lý thuyết Dow được xây dựng nên với mục đích nguyên thuỷ là sử dụng những xu hướng của thị trường chứng khoán như một phong vũ biểu về điều kiện kinh doanh chứ không nhằm mục đích dự báo giá cổ phiếu. Tuy nhiên càng về sau, lý thuyết Dow lại chủ yếu dành riêng cho việc hỗ trợ dự báo giá cổ phiếu.
Lý thuyết Dow không có sách hay tài liệu thống nhất mà đó là quan điểm của Ông Dow được các nhà phân tích và bình luận về sau tổng hợp từ các bài viết, phát biểu của ông mà hình thành nên. Những lý thuyết khác sau này cũng dựa trên nền tảng của lý thuyết này mà phát triển. Trường phái phân tích kỹ thuật cũng thừa kế và phát triển trên nền tảng của lý thuyết Dow, làm cho lý thuyết này thêm vững chắc, đơn giản hơn và dễ hiểu hơn và thực tế hơn bằng đồ thị.
Người đã phát triển những nguyên tắc của Dow và tổ chức chúng thành lý thuyết Dow gần giống như ngày nay là Halminton thông qua quyển “The Stock Market Barometer” năm 1922. Và đến năm 1932, Robert Rhea đã hoàn thiện những lý thuyết trên và xuất bản quyển “Dow Theory”, đây chính là lý thuyết Dow mà chúng ta sử dụng ngày nay.
3. Nguyên tắc của lý thuyết Dow trong trade
Các nguyên lý cơ bản của lý thuyết dow thể hiện niềm tin của Dow về cách phản ứng của thị trường chứng khoán cũng như cách thức đo lường sức khỏe thị trường tài chính để tìm kiếm lợi nhuận.
Những nguyên lý này được Charles H Dow phát triển qua nhiều năm quan sát trên thị trường. Dù là vào thời đại công nghệ phát triển như ngày nay. Với thị trường biến động không ngừng thì lý thuyết Dow vẫn luôn được áp dụng cách phù hợp.
Lý thuyết Dow gồm có 6 nguyên lý quan trọng:
3.1. Nguyên lý 1: Thị trường phản ánh tất cả
– Theo lý thuyết Dow, tất cả các thông tin từ quá khứ, hiện tại cho đến tương lai đều ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán và được phản ánh thông qua giá cổ phiếu và các chỉ số liên quan. Những thông tin đó bao gồm: lãi suất, lạm phát, thu nhập… cho đến cảm xúc của nhà đầu tư. Tất cả những yếu tố này sẽ được tính và định giá vào thị trường.
– Thị trường phản ánh tất cả mọi thứ. Đây là điều mà không ai có thể phủ định được. Trên thực tế, có rất nhiều trader chỉ cần nhìn vào sự biến động của giá cả cũng đã có thể xác định được xu thế của thị trường.
3.2. Nguyên lý 2: Ba xu thế của thị trường
Xu thế chính (xu thế cấp 1): Xu thế này thường kéo dài trong khoảng từ 1 cho đến 3 năm. Không một ai có thể đoán trước được chu kỳ này và cũng không bị thao túng bởi bất kỳ một ai, tổ chức nào.
Xu thế phụ (xu thế cấp 2): Kéo dài trong khoảng từ 1 cho đến 3 tháng. Ngoài ra, xu thế phụ luôn có xu hướng đi ngược lại với xu thế chính.
Xu thế nhỏ (xu thế cấp 3): sẽ kéo dài không quá 3 tuần. Nó thường có xu hướng đi ngược lại với xu thế phụ.
– Thông thường, trong quá trình đầu tư, nhà đầu tư sẽ tập trung giao dịch theo xu hướng chính còn xu hướng phụ và xu hướng nhỏ không được rõ ràng và dễ dàng bị nhiễu nên ko được chú trọng nhiều.
– Trong trường hợp nhà đầu tư quá quan tâm đến xu hướng phụ và xu hướng nhỏ tức là họ đang bị phân tâm quá nhiều bởi những biến động ngắn hạn của thị trường. Điều này làm mất tầm nhìn tổng quát và có thể bỏ lỡ mất những cơ hội lớn, dài hạn của các nhà đầu tư.
3.3. Nguyên lý 3: Xu hướng chính bao gồm 3 giai đoạn
Giai đoạn tích lũy
– Trong giai đoạn này, thị trường thường di chuyển rất chậm, gần như là không di chuyển. Đây cũng là giai đoạn khởi đầu cho xu hướng tăng, các nhà đầu tư bắt đầu tìm cách tham gia vào thị trường.
– Giai đoạn này thường nằm ở cuối xu thế giảm, giá cổ phiếu ở thời kỳ này rất thấp nên sẽ không có bất kỳ rủi ro nào về giá. Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn khó nhận biết nhất, nếu không phải là một nhà đầu tư chuyên nghiệp, bạn rất khó có thể nhận biết xu thế giảm đã kết thúc hay chưa hay vẫn còn tiếp tục.
Giai đoạn bùng nổ
-Sau giai đoạn tích lũy sẽ là giai đoạn bùng nổ. Khi các nhà đầu tư đã gom được một số cổ phiếu nhất định ở giai đoạn tích lũy, họ kiên nhẫn chờ những dấu hiệu lạc quan từ phía thị trường, giai đoạn bùng nổ bắt đầu.
– Ở giai đoạn này, giá cả cổ phiếu có sự biến động mạnh mẽ nhất. Các nhà đầu tư bắt đầu nắm giữ được một vị thế nhất định trên thị trường và thu được khoản lợi nhuận khổng lồ.
Giai đoạn quá độ
Khi thị trường đã tăng đến một mức độ nào đó, người mua bắt đầu yếu thế, thị trường sẽ dần chuyển sang giai đoạn quá độ. Đây là giai đoạn cuối cùng của xu thế tăng. Ở giai đoạn này, các nhà đầu tư bắt đầu có xu hướng bán cổ phiếu lại cho những người vừa mới tham gia vào thị trường. Thị trường lúc này sẽ bắt đầu cho một xu hướng giảm.
3.4. Nguyên lý 4: Các xu hướng xác định bởi khối lượng giao dịch
– Trong một xu hướng, khối lượng giao dịch gia tăng theo hướng của trend và giảm dần trong giai đoạn ngược trend (giai đoạn điều chỉnh). Tức là, trong một xu hướng tăng, khối lượng tăng khi giá tăng, khối lượng giảm khi giá giảm.
– Tuy nhiên, trong một số trường hợp, khối lượng vẫn đi ngược lại với xu hướng, tức là khi giá tăng nhưng khối lượng vẫn giảm hoặc giá giảm mà khối lượng giao dịch tăng thì đó thể hiện sự yếu kém trong xu hướng và khả năng cao nó sẽ đảo chiều trong thời gian sắp tới.
3.5. Nguyên lý 5: Chỉ số bình quân phải xác định lẫn nhau
Theo lý thuyết Dow thì sự đảo chiều của thị trường từ thị trường tăng sang thị trường giảm phải được xác định từ 2 chỉ số. Tức là các dấu hiệu xảy ra trên đồ thị của chỉ số này sẽ phải tương ứng với các dấu hiệu xảy ra trên đồ thị của chỉ số khác. Theo truyền thống thì 2 chỉ số được sử dụng là chỉ số trung bình công nghiệp và chỉ số đường sắt.
3.6. Nguyên lý 6: Xu hướng được duy trì cho đến khi có dấu hiệu đảo chiều xuất hiện
Theo lý thuyết Dow thì một xu hướng vẫn sẽ được duy trì cho đến khi những dấu hiệu cho thấy nó đã bị đảo chiều dần xuất hiện. Chính vì vậy mà các nhà đầu tư cần phải kiên nhẫn, quan sát thật kỹ để nhận biết rõ ràng sự đảo chiều của xu hướng để đưa ra những quyết định đúng đắn.
Không có phương pháp nào hoàn hảo 100%. Ngoài những đóng góp quan trọng của lý thuyết Dow để đặt nền tảng cho phân tích kỹ thuật thì cũng sẽ có những hạn chế nhất định như:
Độ trễ lớn: Lý thuyết Dow rất coi trọng việc giao dịch theo trend chính, đồng nghĩa với việc nó sẽ báo hiệu tín hiệu bán đỉnh hình thành & mua sau khi đáy hình thành một khoảng thời gian & một đoạn giá lớn. Bởi nếu tập trung vào việc giao dịch các xu hướng ngắn hạn sẽ tốn nhiều chi phí giao dịch.
Không thể phân loại xu hướng rõ ràng:Lý thuyết Dow sẽ có 3 xu hướng gồm xu hướng chính (xu hướng cấp 1), xu hướng thứ cấp (cấp 2), xu hướng nhỏ/ngắn hạn (cấp 3).
Nhưng chính sự dao động giá rất khó để xác định chúng thuộc xu hướng nào, có thể một xu hướng thứ cấp trọn lẫn xu hướng chính, rất khó xác định, bởi khi bắt đầu thì chúng có nhiều nét quá giống nhau, nên tạo sự nhầm lẫn.

